Chính phủ Việt Nam đã chính thức công bố mức lạm phát của tháng 7 năm nay, tăng 27% so với tháng này năm ngoái. Tính cả bảy tháng thì tỉ lệ lạm phát tăng 21.28% so với cùng kỳ năm ngoái.
27% là con số lạm phát cao nhất Á Châu nhưng theo các nhà phân tích thì trong thời gian ngắn sắp tới sẽ còn cao hơn nữa vì chính sách kinh tế của nhà nước chưa tỏ ra đủ mạnh để khống chế tình hình.
Thâm hụt mậu dịch riêng tháng bảy là 700 triệu đôla, cả bảy tháng là 15 tỉ đôla.
Ưu tiên truớc mắt
Hôm thứ Tư, Bộ trưởng Tài chính VN, ông Vũ Văn Ninh, cho biết việc chống lạm phát vẫn là mục tiêu ưu tiên của Việt Nam, và sẽ được thực hiện quyết liệt từ giờ cho tới cả năm 2009.
Ông Vũ Văn Ninh đưa ra lời khẳng định này sau khi Việt Nam vừa quyết định cho tăng giá xăng dầu, khiến nhiều người quan ngại cho rằng mục tiêu kiềm chế lạm phát của chính phủ sẽ gặp trở ngại.
Lên tiếng với báo điện tử VietnamNet hôm qua, Bộ trưởng Vũ Văn Ninh giải thích rằng cùng với việc cho tăng giá nhiên liệu, Chính phủ cũng có hàng loạt giải pháp để thực hiện sự bình ổn giá cả thị trường, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển kinh tế.
Giá xăng tăng vào lúc gía đô-la Mỹ trên thị trường tự do trong nước cũng “đang có xu hướng tăng khá nhanh và mạnh”, lên tới 17.500 đồng ăn một đô la tại thị trường tự do Hà Nội hồi hôm qua.
Trong khi đó, giá vàng cũng đang trong chiều hướng tăng cao.
Cảnh báo của ADB
Trước tình trạng lạm phát và giá cả tăng cao tại Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Châu Á ADB, cảnh báo rằng để tránh cuộc suy thoái kinh tế, Việt Nam cần phải hành động dứt khoát.
Báo cáo Giám sát kinh tế Châu Á do ADB thực hiện nhấn mạnh rằng chính sách quản lý yếu kém là nguyên nhân vì sao nạn lạm phát và thâm hụt mậu dịch tại Việt Nam ngày càng trầm trọng.
Những khó khăn mà Việt Nam đang phải đối mặt được đánh giá là tương tự như tình trạng của Thái Lan hồi thập niên 90, khiến ngừơi ta quan ngại về nguy cơ khủng hoảng kinh tế, nếu không có biện pháp hữu hiệu kịp thời từ nhà nước.
Ngân hàng ADB dự báo mức tăng trưởng của Việt Nam trong năm nay sẽ chậm lại còn 6,5% trong khi lạm phát sẽ tăng lên hơn 19%.
Vì vậy, ADB kêu gọi Việt Nam phải theo dõi sát tình hình và nhanh chóng đề ra những đối sách dứt khoát trứơc khi thực trạng kinh tế trở nên tệ hại hơn nữa.
Tại khu vực Châu Á, Việt Nam đang là một trong những nước lạm phát cao nhất. Mức thâm hụt thương mại nửa đầu năm nay được báo cáo là đã tăng gấp 3 lần.
Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam tăng lên tới 27% trong tháng 7
VOA 24/07/2008
Tỷ lệ lạm phát phi mã của Việt Nam đã lên tới mức 27% trong tháng 7 vừa rồi, và đây là mức cao nhất trong 17 năm nay.
Các thông tấn xã AFP và AP dựa vào tin của Tổng Cục Thống Kê Việt Nam đưa ra hôm thứ Năm cho hay tỷ lệ lạm phát gia tăng vì giá thực phẩm, nhà cửa, xăng dầu gia tăng nhiều so với một năm trước đây.
Theo AFP, tuy mức 27% này chỉ cao hơn mức 26,8% của tháng 6 đôi chút, song nhiều người nghĩ rằng quyết định hồi đầu tuần của chính phủ tăng giá xăng lên hơn 30% sẽ còn đẩy mức lạm phát lên cao hơn nữa.
Theo những số liệu do Tổng Cục Thống Kê Việt Nam đưa ra, mức lạm phát của 7 tháng đầu năm nay là 21,3%, trong đó mức của tháng 6 là 26, 8%, của tháng 5 là 25,2%, và mức 27% của tháng 7 là mức cao nhất kể từ khi lên tới 67% năm 1991.
Theo báo chí nhà nước, Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư trước đây đã tiên đoán là mức lạm phát của cả năm 2008 có thể lên tới 25%, tức là mức cao nhất của hơn 10 năm nay. Tin cho hay trong một nỗ lực nhằm ngăn chặn đà lạm phát phi mã này, chính phủ đã đình hoãn hoặc hủy bỏ việc thực hiện hơn 5,000 dự án trị giá tổng cộng khoảng 2 tỷ đôla Mỹ.
Tổng Cục Thống Kê Việt Nam cho rằng lạm phát gia tăng trong 7 tháng đầu năm nay vì giá nhập khẩu xăng dầu, máy móc, thép xây dựng, phân bón và xe hơi gia tăng.
Về địa hạt chỉ số giá tiêu dùng, theo bản tường trình sơ khởi của Tổng Cục Thống Kê, chỉ riêng trong tháng 7, giá thực phẩm và nước giải khát tăng 47% so với một năm trước đây, giá gạo và các mễ cốc khác tăng 72, 7%, giá nhà cửa và vật liệu xây cất tăng 24,9%, quần áo và giày dép tăng 10,9%, dược phẩm và chi phí săn sóc sức khỏe tăng 9,5%.
Những số liệu vừa kể được đưa ra sau khi Ngân Hàng Phát Triển Á Châu hôm thứ Ba cảnh cáo Việt Nam là phải áp dụng các biện pháp quyết liệt để tránh một vụ suy sụp kinh tế tương tự như vụ Thái Lan phải gánh chịu năm 1997, tạo ra một cuộc khủng hoảng tài chính cho toàn vùng Á Châu.
Ngân Hàng này cũng tiên đoán là tỷ lệ phát triển kinh tế của Việt Nam trong năm nay sẽ giảm xuống còn 6,5% so với 8,5% của năm ngoái, để rồi lên 6,8% trong năm 2009.
BBC 24 Tháng 7 2008 – Cập nhật 16h52 GMT
Doanh nghiệp ứng phó với lạm phát
Quốc Phương
Hội Quản trị Doanh nghiệp Việt Nam (VACD) và Tạp chí Nhà Quản lý, thuộc Viện Nghiên cứu và Đào tạo về Quản lý (VIM/VUSTA) phối hợp tổ chức cuộc Hội thảo với tên gọi “Ứng phó lạm phát từ góc độ quản trị doanh nghiệp” hôm 24/7/2008 tại Hà Nội.
Ban Tổ chức cho biết cuộc Hội thảo này được thực hiện nhằm mở ra một diễn đàn trao đổi kinh nghiệm, qua đó, các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có thể chia sẻ thông tin và giải pháp nhằm tự bảo vệ trước sóng gió kinh tế.
Cơn bão lạm phát đang diễn ra hơn 6 tháng qua tại Việt Nam mà chỉ số tối thiểu của chỉ riêng tháng 7 này, như theo công bố của Tổng Cục Thống Kê Nhà nước, lên tới 27%, đã trực tiếp gây ra các khó khăn và thiệt hại cho khối doanh nghiệp.
Tại cuộc Hội thảo, nhiều doanh nghiệp đã cho biết những khó khăn rất lớn mà họ đang trải qua, như lời của Tiến sĩ Hàn Mạnh Tiến, Chủ tịch Hội Quản trị Doanh nghiệp VACD:
“Khó khăn thứ nhất là nguyên liệu đầu vào cho các doanh nghiệp sản xuất tăng cao quá, sức mua giảm. Do vậy các doanh nghiệp phải xem xét lại nghiêm túc cách chi dùng của mình.”
Vẫn lời của ông Tiến, người đồng thời là uỷ viên Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam:
“Nhiều doanh nghiệp đã nêu ra những dự án mà họ đã chuẩn bị rất kỹ, bây giờ họ phải dừng lại. Nhiều dự án đang đầu tư thì giờ phải tìm cách phải bán đi.”
Ông Tiến cũng cho biết nhiều doanh nghiệp đã suy nghĩ tới phương án cắt giảm lao động. Một số doanh nghiệp khác cũng tính tới chuyện quản trị, tái cấu trúc, mà trong một số trường hợp nhất định có thể hiểu là việc buộc phải đóng cửa hoặc thu hẹp quy mô sản xuất, hoặc kinh doanh của doanh nghiệp.
Người từng đứng đầu một trong số nhiều hãng tư vấn đầu tiên nội địa về đầu tư và chuyển giao công nghệ của Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam tư từ sau đổi mới rút ra một tổng kết:
“Nói tóm lại đây là một nỗi lo hiển hiện trước mắt của các nhà quản trị doanh nghiệp ở đây.”
Tiếng nói doanh nghiệp
Sau khi rời diễn đàn của cuộc Hội thảo này, một trong nhiều đại biểu từ giới doanh nghiệp, ông Mai Huy Tân, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đức – Việt, một doanh nghiệp chuyên sản xuất xúc xích Đức và các sản phẩm từ thịt, cho biết cảm tưởng:
“Cuộc hội thảo này có thể nói lên tiếng nói của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân liên quan tới những khó khăn mà doanh nghiệp Việt Nam phải ứng phó với lạm phát hiện nay.”
Nhà doanh nghiệp vốn hiện buộc phải nhập khẩu thịt heo cho công ty của mình từ tận thị trường Canada do giá thịt heo trong nước quá cao, mặc dù rất muốn thua mua sản phẩm chăn nuôi trong nước, mô tả vài trong số các khó khăn mà doanh nghiệp của ông đang phải đương đầu:
“Chúng tôi phải tự bươn chải với cái này mà không có sự hỗ trợ của bất cứ ai cả. Với giá cả gia tăng, chúng tôi đã phải mua các nguyên liệu với giá rất cao.”
“Và thứ hai là khi chúng tôi phải nhập khẩu những nguyên liệu để chế biến, thì chúng tôi sẽ phải rất khó khăn trong việc mua các ngoại tệ.”
Bà Trần Thu Huyền, Tổng Giám đốc kiêm Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Sơn Châu Á, một doanh nghiệp khác tham dự hội thảo tỏ ra khá thẳng thắn:
“Sau hội nghị, chúng tôi có một cảm nghĩ như thế này: thực ra đây là nơi để các doanh nghiệp xả stress thôi. Thế còn cũng không kỳ vọng lắm về việc đưa ra những kiến nghị mà Chính phủ nhìn nhận đến hoặc là giải quyết.”
Kiến nghị Chính phủ
Người phụ nữ đứng đầu doanh nghiệp, vốn lựa chọn việc tăng quỹ lương thay vì sa thải lao động trong bối cảnh lạm phát hiện nay do muốn chia sẻ rủi ro với người lao động trong doanh nghiệp của mình, phân tích:
“Bởi vì về thực chất thì Chính phủ không phải là không biết; thế nhưng năng lực giải quyết bởi một sự kiểm soát mang tính chính trị nào đó, theo nhưng chúng tôi nói, làm cho không thể làm hết tay được.”
Cuộc Hội thảo ứng phó với lạm phát của Hiệp hội Quản trị Doanh nghiệp Việt Nam – VADC – tổ chức dự kiến đưa ra một bản khuyến nghị gồm nhiều điểm để đệ trình lên các cơ quan hoạch định chính sách và điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ.
Tiến sĩ Hàn Mạnh Tiến, Chủ tịch VADC cho hay về điểm chính yếu của bản khuyến nghị này:
“Điểm quan trọng nhất của khuyến nghị này là Chính phủ phải tạo dựng được niềm tin cho dân chúng và cho doanh nghiệp. Phải xác định rõ điều hành, quyền hạn phải đi đôi với trách nhiệm”.
Ông Tiến đặt ra một câu hỏi mang tính chất vấn: “Xảy ra tình trạng này, ai chịu trách nhiệm đến đâu? Đặc biệt trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, đầu tư rồi quản trị các doanh nghiệp nhà nước, các tập đoàn kinh tế.”
Như vậy, qua ý kiến của các doanh nghiệp từ cuộc Hội thảo “Ứng phó với lạm phát từ góc độ quản trị doanh nghiệp”, thì cơn bão lạm phát và suy thoái kinh tế đang thực sự gây ra những khó khăn vô cùng to lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là khối doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Song có một vấn đề hết sức sâu sắc và nghiêm túc được đặt ra bởi nhiều doanh nghiệp trong nước và các giới trong và ngoài nước.
Đó là Chính phủ và các cơ quan điều hành, quản trị nền kinh tế, cần phải sớm nhìn nhận và học hỏi từ chính các yếu kém trong điều tiết quản lý vĩ mô để sớm có các giải pháp mang tính trách nhiệm trước dân và giới doanh nghiệp, nếu thực sự mong muốn có một lối thoát bền vững không chỉ trên lĩnh vực kinh tế.
Việt Nam: Thâm hụt mậu dịch trong 7 tháng đầu năm lên tới 15 tỷ đôla
VOA 24/07/2008
Việt Nam ước tính mức thâm hụt mậu dịch trong 7 tháng đầu năm nay sẽ lên tới 15 tỷ 10 triệu đô la Mỹ, tức là tăng quá gấp đôi so với năm ngoái.
Tin của Reuters và Bloomberg cho hay theo bản phúc trình của Tổng Cục Thống Kê Việt Nam đưa ra hôm thứ Năm, mức xuất khẩu trong thời gian từ tháng Giêng tới tháng 7 tăng 37,7% so với cùng thời gian này năm ngoái, lên 36 tỷ 880 triệu đô la, nhưng mức nhập khẩu lại tăng tới 56,8%, lên 51 tỷ 890 triệu đô la.
Trong 7 tháng dầu của năm 2007, mức thâm hụt mậu dịch chỉ là 6 tỷ 320 triệu đô la. Chỉ tính riêng tháng 7, theo Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, số lượng xuất khẩu được ước tính khoảng 6 tỷ 250 triệu đô la và nhập khẩu là 7 tỷ 50 triệu, tạo ra mức thâm hụt mậu dịch là 800 triệu đô la, tức là tăng, so với mức thâm hụt 736 triệu của tháng 6, nhưng ít hơn rất nhiều, so với mức 2 tỷ 850 triệu của tháng 5.
Đây là lần thứ nhì trong 2 tháng liên tiếp, tình trạng gia tăng của mức thâm hụt mậu dịch nằm dưới con số 1 tỷ đô la. Ưu tiên của chính phủ Việt Nam hiện nay là giảm mức nhập khẩu, vì lo ngại một tình trạng thâm hụt mậu dịch gia tăng mau lẹ có thể tạo ra một cuộc khủng hoảng tiền tệ.
Trong bản phúc trình hôm 22 tháng 7, Ngân Hàng Phát Triển Á Châu nhận định rằng có những dấu hiệu khích lệ cho thấy các chính sách siết chặt của nhà nước đang khởi sự có hiệu quả, trong đó mức nhập khẩu giảm sút và đồng bạc Việt Nam ổn định.
Theo các số liệu của Tổng Cục Thống Kê, số lượng thép nhập khẩu trong tháng 7 nhiều hơn tới 96,6% so với 1 năm trước đây, lên tới 5 tỷ 10 triệu đô la. Giá thép và vật liệu xây cất tăng cao trong năm nay đã đưa tới chỗ đình hoãn nhiều dự án phát triển gia cư và làm nhu cầu nhà cửa giảm sút.
Phải lệ thuộc gần như hoàn toàn vào các sản phẩm dầu lửa đã được lọc vì trong nước chưa có nhà máy lọc dầu, số tiền Việt Nam phải trả cho các sản phẩm dầu nhâp khẩu trong 7 tháng đầu năm nay nhiều hơn tới 90,7% so với thời gian này năm ngoái, lên tới 7 tỷ 750 triệu đô la vì giá dầu trên thế giới tăng cao.
Cảnh báo suy thoái kinh tế Việt Nam
Nam Nguyên, phóng viên đài RFA 2008-07-24
Cảnh báo suy thoái kinh tế có thể xảy ra cho Việt Nam gần đây được đề cập nhiều hơn trên báo chí truyền thông và cả trong báo cáo của Ngân Hàng Phát Triển Á Châu ADB.
Nam Nguyên phỏng vấn Tiến sĩ Nguyễn Quang A, Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phát Triển IDS, một tổ chức tư nhân ở Hà Nội. Trước hết Tiến sĩ Nguyễn Quang A nhận định:Thực sự những lo ngại như thế cũng được các chuyên gia ở trong nước cảnh báo từ suốt bảy, tám tháng nay và nó thể hiện ở nhiều chỉ số kinh tế vĩ mô không được đẹp.
Đó là lạm phát gia tăng cao, đó là thâm hụt ngân sách, thâm hụt cán cân thương mại là chuyện xảy ra đã nhiều năm nay, nhất là hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế quốc doanh. Đó là những vấn đề nổi cộm, thực sự thì nền kinh tế VN đang phải đối mặt rất là gay gắt.
Sẽ còn nhiều khó khăn
Nam Nguyên: Theo Tiến sĩ, có thể cho tình trạng này ở vào cấp độ nguy hiểm như thế nào?
TS Nguyễn Quang A: Thực sự tôi nghĩ rằng, nền kinh tế Việt Nam đã đi xuống và gặp rất nhiều khó khăn trong suốt 6 tháng vừa qua và tôi nghĩ rằng nó sẽ tiếp tục khó khăn hơn. Có thể cần phải sáu, bảy tháng nữa thì lúc đó mới hồi phục dần được.
Nam Nguyên: Thưa ông, vừa qua lại có quyết định tăng giá xăng dầu đột ngột và khá mạnh hơn 30%. Như vậy sẽ có ảnh hưởng thế nào tới chỉ số tăng giá tiêu dùng?
TS Nguyễn Quang A: Việc để cho thị trường quyết định giá là việc lẽ ra nên làm từ nhiều năm trước, khi mà nền kinh tế đang ở chiều lên. Để cho thị trường điều chỉnh giá là một điều tốt thôi, việc tăng giá trong mấy ngày vừa qua là một việc cực chẳng đã mà chính phủ phải làm.
Nhưng việc làm này ở trong một thời điểm tôi cho rằng không thực tiễn. Chắc chắn nó sẽ ảnh hưởng tới việc tăng giá nói chung, tức là ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng của tháng 8, bởi vì chỉ số gía cả của tháng 7 đã được tính rồi.
Nam Nguyên: Thưa TS, có nhiều dự báo khác nhau về mức tăng giá tháng 8, từ dưới 1% tới 3%. Ông nhận định gì về các dự báo này?
TS Nguyễn Quang A: Tôi nghĩ rằng, dự báo khoảng vài ba phần trăm cho tháng 8 là có lý. Việc các chuyên gia của chính phủ nói rằng việc tăng giá xăng sẽ làm tăng chỉ số giá tiêu dùng khoảng 0,5% cho tới 1% thì nếu cộng vào cái đã có thì nó vẫn ra con số 2%, 3% gì đó.
Nam Nguyên: Như vậy trọn năm 2008, theo TS chỉ số tăng giá tiêu dùng có thể ở mức 35% hay 40% hay không?
TS Nguyễn Quang A: Tôi nghĩ nó sẽ ở đâu đó khoảng 30% và nếu mà giữ nó được ở mức 30% thì đã là một thành tích rồi!
Chính sách của Chính phủ ?
Nam Nguyên: Chính sách thắt chặt tiền tệ tín dụng để chống lạm phát, đồng thời tạo ra những tác dụng ngược có thể gây khủng hoảng nhiều lãnh vực như khủng hoảng cá tra vừa qua, hoặc chuyện thép xây dựng và phôi thép bị xuất khẩu ngược hậu quả khó lường? Chính sách của chính phủ sẽ phải năng động như thế nào?
TS Nguyễn Quang A: Theo tôi trong tình hình rất khó khăn này thì chính sách của chính phủ sẽ phải rất uyển chuyển, theo nghĩa rằng trong tình hình bất bình thường thì có khi cũng cần đến những biện phát bất bình thường.
Tôi là người ủng hộ sự điều tiết của cơ chế thị trường, nhưng mà trong lúc tình hình rất đặc biệt thì có khi những biện pháp hành chính cũng cần được sử dụng ở một thời gian ngắn.
Sở dĩ như vậy là bởi vì lòng tin của người dân, của doanh nghiệp, của các nhà đầu tư đã bị xói mòn trong thời gian vừa qua và yếu tố tâm lý và lòng tin đóng một vai trò trong diễn biến tới của tình hình kinh tế Việt Nam, làm không khéo thì có thể có những hậu quả rất là khó lường.
Nam Nguyên: Tiết giảm đầu tư công như thông báo đạt hơn 35 ngàn tỷ đồng, theo ông cần nỗ lực nhiều hơn nữa hay không?
TS Nguyễn Quang A: Đầu năm nay thì chính phủ đưa ra quá nhiều các giải pháp. Trong khoảng vài tháng trở lại đây thì những giải pháp của chính phủ có nhất quán rõ ràng hơn và tôi nghĩ là đúng hơn.
Đó là việc tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ và thắt chặt chính sách tài khoá, cái mà ông nói liên quan tới chính sách tài khoá, là đầu tư công là chi tiêu đầu tư của các tập đoàn kinh tế Nhà nước được cắt giảm.
Về phần này tôi e ngại rằng không những chưa đủ, ngay cả con số 34 ngàn tỷ tôi rằng chưa phải thực chất.
Ở đây ngừơi ta nói về chuyện hoãn rồi giãn những dự án đầu tư mà những dự án đó thực sự là không bao giờ có thể thực hiện trong hoàn cảnh này.
Hoãn giãn những cái đấy rồi tính con số đó vào thành ra một số lượng tiền khoảng 2 tỷ đô la thì hoàn toàn không có nghĩa gì cả, mà phải hoàn toàn cắt giảm thực sự chứ không phải cắt giảm trên giấy tờ.
Tôi nghĩ rằng nếu chính phủ VN không rất kiên quyết việc cắt giảm thực sự các khoản đầu tư chi tiêu công, nhất là các khoản đầu tư không hiệu quả thì tôi nghĩ rằng tình hình rất là khó lường.
Nam Nguyên: Cảm ơn TS Nguyễn Quang A đã trả lời chúng tôi.
ADB: Tình hình kinh tế tại Việt Nam đáng lo ngại nhất trong khu vực châu Á
Mặc Lâm, phóng viên đài RFA 2008-07-24
Trong bản báo cáo 6 tháng đầu năm 2008 về tình hình kinh tế khu vực châu Á, Ngân Hàng Phát Triển Á Châu gọi tắt là ADB cho biết mối quan ngại của định chế tài chánh này đối với sự suy giảm kinh tế của nhiều nước, đặc biệt là Việt Nam.
Bản báo cáo nêu lên những sa sút về kinh tế cũng như những kế hoạch mà Việt Nam cần gấp rút thực hiện nếu không thì hiện tượng khủng hoảng tài chánh như năm 1997 có nguy cơ lập lại tại đất nước đang phát triển này. Mặc Lâm phỏng vấn ông Ayumi Konishi, giám đốc ADB tại Việt Nam nhằm tìm hiểu thêm về vấn đề này mời quý vị theo dõi.
Mặc Lâm: Thưa ông Ayumi Konishi, mới đây ADB vừa cho công bố bản phúc trình tình trạng kinh tế của các nước Á châu trong đó Việt Nam được xem là đáng lo ngại nhất. Là người đang có mặt điều hành ADB tại Hà Nội xin ông cho biết bối cảnh chung tình hình kinh tế hiện nay của Việt Nam như thế nào?
Tình trạng nhập siêu
Ông Ayumi Konishi: Từ giữa tháng 5 đến cuối tháng 6 vừa qua thì tình hình kinh tế của Việt Nam có nhiều biến chuyển và lạm phát vẫn là vấn đề bức xúc nhất gây sức ép lên nền kinh tế vĩ mô và ảnh hưởng lên tất cả mọi sinh hoạt nhất là trên thị trường bất động sản và chứng khoán. Cổ phiếu sụt giảm và nhà đầu tư không yên tâm giao dịch như trước đây cũng cho thấy bối cảnh chung hiện nay một cách tổng quát.
Về lạm phát, so với mức 8% vào tháng 6 năm 2007 đã tăng vọt lên 26,8% vào tháng 6 năm nay nhưng theo dự báo thì sẽ còn hơn nữa vào thời gian sắp tới, đặc biệt sau khi nhà nước chấm dứt tình trạng bù giá trên mặt hàng xăng dầu.
Mặc Lâm: Trong hơn hai tuần vừa qua, chứng khoán có dấu hiệu phục hồi tuy còn chậm, ông có cho đây là một dấu hiệu tốt hay không?
Ông Ayumi Konishi: Chỉ số VNIndex tuy tiến gần với mức 500 điểm nhưng sự phục hồi của thị trường tôi cho là chưa đủ mạnh để chúng ta lạc quan. Tuy nhiên nếu so với những tháng trước đó có lúc chỉ số xuống dưới mức 300 điểm thì đây là một dấu hiệu tốt có thể lấy làm điểm mốc cho việc phục hồi sau này.
Mặc Lâm: Riêng về thâm thủng ngân sách và tình trạng nhập siêu thì ông nhận thấy thế nào trong sáu tháng đầu năm, thưa ông?
Ông Ayumi Konishi: Tình trạng nhập siêu thật ra chưa thấy có gì cải thiện so với trước đây. Chỉ trong 6 tháng đầu năm nay mức nhập siêu đã tăng lên gần 17 tỷ tức gấp ba lần so với năm ngoái. Nhiều mặt hàng được nhập khẩu mà nhà nước không kiểm sóat được đã gây ra những hậu quả vừa không cần thiết cho sản xuất vừa làm mất quân bình vừa làm cho xã hội mất định hướng.
Cán cân chi phó do đó bị ảnh hưởng bên cạnh việc nhà nước chưa thật sự cải tổ các tập đoàn và tổng công ty gây thất thu, và nhiều dự án nằm ngoài tầm kiểm soát. Tuy nhiên trong thời gian gần đây, nhà nước có cải thiện đôi chút khi ra lệnh cắt giảm nhiều công trình công, tiết giảm nhiều ngàn tỷ đồng cũng giúp cho nền kinh tế nhẹ nhàng hơn trước đây.
Quyết định tăng giá xăng dầu
Mặc Lâm: Thưa ông nghĩ sao về việc nhà nước quyết định tăng giá xăng dầu trong hai ngày vừa qua?
Ông Ayumi Konishi: Đây là quyết định sớm muộn gì cũng phải thực hiện. Việt Nam không thể trợ giá mãi mãi vì ngân sách nhà nước không cho phép. Tuy việc này làm người dân bị thiệt thòi nhiều nhưng nếu nhà nước có những biện pháp khác để cân bằng chẳng hạn như mở rộng và phát triển hệ thống giao thông công cộng cũng giúp gải quyết được vấn đề này. Những khó khăn trước mắt phải chú ý là khi giá xăng dầu tăng thì lạm phát sẽ tăng theo.
Mặc Lâm: Quay lại với câu hỏi liên quan đến lạm phát, ông có cho rằng sau khi có những kế hoạch siết chặt tài chánh thì đã có kết quả cụ thể gì không?
Ông Ayumi Konishi: Hôm thứ Sáu tuần rồi chỉ số tiêu dùng tăng lên 25 hay 26% làm cho mọi người lo ngại hơn nữa. Bên cạnh đó là vài ngày vừa qua chỉ số VNIndex cũng đang giảm làm người ta nghĩ rằng việc chống lạm phát đang gặp trở ngại vì nhà nước tỏ ra chưa mạnh tay lắm trong kế hoạch vĩ mô. Tuy nhiên nhà nước cần chú ý hơn nữa trước tình hình mất giá của đồng bạc Việt Nam.
Mặc Lâm: Vậy theo ông thì nhà nước cần phải làm gì thêm?
Ông Ayumi Konishi: Đây thật sự là một thử thách rất lớn. Nhà nước cần phải quyết đoán và mạnh mẽ thực hiện những kế hoạch đã đưa ra chẳng hạn như tiết giảm đầu tư công hơn nữa, ngăn chặn tình trạng nhập khẩu các mặt hàng không cần thiết cho sản xuất, hỗ trợ nông dân và giới thu nhập thấp tùy theo hiện trạng của từng khu vực nhằm tránh bất ổn xã hội.
Mặc Lâm: Xin cảm ơn ông.
Châu Âu bỏ ưu đãi nhập khẩu giầy dép
Đức Tâm
RFI Bài đăng ngày 24/07/2008 Cập nhật lần cuối ngày 24/07/2008 16:45 TU
Theo AFP, hôm thứ ba 22/07, các ngoại trưỏng Liên hiệp châu Âu đã chính thức quyết định không để cho sản phẩm giầy da của Việt Nam được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập, GSP. Theo Liên hiệp châu Âu, chế độ ưu đãi nói trên là nhằm giúp đỡ các nước nghèo xuất khẩu sang thị trường châu Âu và hiện nay Việt Nam đã đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu, không cần đến sự trợ giúp đặc biệt này nữa
Nhằm hỗ trợ xuất khẩu của các nước nghèo, từ đầu những năm 70, châu Âu áp dụng hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP), trên nguyên tắc không phân biệt đối xử và không đòi hỏi nguyên tắc có đi có lại. Theo đó, một loại sản phẩm được hưởng ưu đãi thuế quan khi nó chiếm dưới 15% tổng nhập khẩu của châu Âu về mặt hàng đó.
Theo tính toán của châu Âu, trong giai đoạn từ 2005 đến 2007, giầy dép của Việt Nam đã chiếm hơn 19%. Do quan hệ thân thiện giữa Pháp và Việt Nam, trưóc đây, Paris đã đưa thêm một nguyên tắc nữa có lợi cho Việt Nam : Các loại sản phẩm chiếm hơn 50 tổng xuất khẩu của Việt Nam sang châu Âu, tức là các sản phẩm này có vai trò quan trọng trong thu nhập ngoại tệ của Việt Nam, thì cũng được ưu đãi thuế quan. Trong thời gian qua, hàng giầy dép của Việt Nam chỉ còn chiếm hơn 49%.
Liên đoàn ngành sản xuất quần áo và thiết bị thể thao châu Âu, FESI, đại diện cho quyền lợi của nhiều tập đoàn lớn như Adidas, Nike, Puma v.v. chỉ trích quyết định của châu Âu và cho rằng đó là đòn đau giáng vào ngành công nghiệp giầy dép của Việt Nam cũng như của châu Âu. Bởi vì các doanh nghiệp châu Âu coi Việt Nam là nguồn cung ứng các sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao. Ngành công nghiệp giầy dép Việt Nam sử dụng tới nửa triệu lao động, trong đó 80% là phụ nữ. 90% tổng xuất khẩu giầy dép của Việt Nam là sang châu Âu, đạt mức 1,7 tỷ đô la trong năm 2007.
Tác giả: vacd.vn
Nguồn: vacd.vn
